Monthly Archives: Tháng Chín 2011

Những ngày tuổi trẻ

Nhảy lên những bậc thang
là đặc quyền tuổi trẻ
Nhảy lên những tháng ngày
là nỗi buồn tuổi trẻ

Tuổi trẻ ai đánh rơi
Thềm mưa qua giấc ngủ
tuổi trẻ ai bỏ quên
trưa hè dưới tán cây

Bay qua những ước mơ
là nỗi niềm tuổi trẻ
Chạy trên đầu con sóng
Tuổi trẻ những tò mò

Những đặc quyền tuổi trẻ
Tâm hồn vừa sinh ra
bước ra từ vỏ trứng
Nào hãy nhảy múa đi

Đừng bao giờ nghĩ ngợi
chớ bao giờ hoài nghi
tiếc thương thời tuổi trẻ
cứ thả trôi ước vọng
như đặc quyền tuổi trẻ
cứ chạy đi bay đi
để thấy những tuổi trẻ
màu xanh trên ngọn cây

Về lại dưới hiên nhà
Tuổi trẻ như người bạn
đợi tháng ngày tuổi trẻ
ngồi với nhau bầu bạn
tuổi trẻ là bóng hình
tìm ta dưới cơn mưa


Cửa sổ cũ, bức tường mới

Câu chuyện bắt đầu lúc chạy bộ, nó có thể bị đứt quãng vì đầu óc cần điều phối nhịp thở, chân, tai…

Đấy là về cái cửa sổ lớn bên bàn làm việc của tôi, cái cửa sổ mở đúng hướng tây nên tôi có đủ ánh sáng tốt vào buổi sáng và phải kéo rèm vào buổi chiều. Từ cửa sổ tôi có thể nhìn ra một góc hồ Thuyền Quan, phải phóng tầm nhìn luồn qua khoảng trống khá hẹp vì những căn nhà lồi lõm bao vây để nhìn thấy hồ và những tán cây xanh bao quanh nó. Thế nào đi nữa thì đấy cũng là một góc nhìn khá cao cấp bên bàn làm việc ở thành phố. Cho đến khi nhà kế bên xây lên, bức tường dần xuất hiện và chiếm đi cái khoảng không bé nhỏ của tôi, cái khoảng không mà hằng ngày tôi vẫn thò đầu ra hút thuốc hay bất thần cần một ít không khí tươi dù nó không tươi lắm vì đượm mùi khói bếp của các nhà hàng lân cận hay tiếng mắng nhau của nhân viên phục vụ nhà hàng. Dù sao thì nó cũng giúp tôi trốn được căn phòng điều hòa trong ít phút, làm tôi tỉnh táo hơn đôi chút.

Một thực trạng hiển nhiên ở các đô thị không có quy hoạch định hướng và thả nổi quản lý kiến trúc. Hay chính xác hơn là mọi thứ đều được quản lý dưới một hình thức rất mập mờ để tiện cho việc kiếm chác qua những kẽ hở. Càng mập mờ, càng ít có định hướng quy hoạch thì càng sinh ra cơ chế xin-cho. Càng nhiều xin-cho thì càng nhiều điều bất ngờ có thể xảy ra. Giống như sau một đêm thức dậy bạn không thể mở cửa sổ phòng mình vì nó đã là một bức tường.

Thực ra nói Hà Nội là một đô thị cũng không đúng mà nói là nông thôn cũng không sai. Vì Hà nội chưa có đủ cơ sở vật chất cơ bản, quy hoạch định hướng và các tiêu chuẩn tối thiểu để được gọi là một đô thị. Ngược lại về cách sinh hoạt thì rõ là một vùng nông thôn vì khó mà phân biệt đâu là vỉa hè, đâu là lòng đường, đâu là sân trước hàng bún chả, đâu là nhà vệ sinh công cộng, đâu là bãi đỗ xe, đâu là quán sá, đâu là cống thoát nước. Con người thì cũng khó hòng mà phân biệt được người lao động chân tay và người làm việc bằng đầu óc vì qua cách nói cho đến trang phục đều rất khó đoán được.

Sau giờ làm việc hôm nay tôi đã mở cửa sổ ra và ngồi nhìn bức tường gạch mới xây vội mà nhớ về cái khoảng không ngày trước. Tôi nảy ra một ý là sẽ chụp ảnh cái view ngày trước để dán lên bức tường như một góc tưởng niệm nhỏ cho cái khoảng không của tôi. Nhưng cuối cùng tôi thấy không ổn vì nó giống một sự hoài niệm trong vô vọng hơn là một góc tưởng niệm. Giống như ta có thể nhớ về con chó đã chết khi nhìn cái vòng cổ của nó treo trên tường nhưng ta khó mà có lại cảm xúc với một khoảng không đã mất khi đứng nhìn những bức ảnh về nó. Thế là tôi định bụng một ngày đẹp trời nào đấy sẽ mua bia mời bạn Hiệp đến văn phòng để vẽ bậy cái gì đấy lên bức tường gạch kia cho hả hê, cho thỏa thích.

Đấy là vì sao người Hà Nội hay hoài niệm, hay tự hào về quá khứ mà xỉ vả hiện tại. Giống như cái khung cửa sổ của tôi, người Hà Nội cũng đã từng có những khoảng không đẹp, những tán cây, những mặt hồ, những con đường ngăn nắp. Nhưng hằng ngày, hằng ngày họ bị xoáy vào cái vòng luẩn quẩn của hoài niệm, xỉ vả, hiếu thắng, đua chen và cứ thế xây lên những bức tường mới bao lấy những khoảng không của chính họ. Tôi nhớ mang máng trên báo nào đấy có mục “cửa sổ tâm hồn” khi nghĩ về khung cửa sổ của tôi. Theo cách này, đến một ngày nào đấy con người trong thành phố sẽ chỉ còn tâm hồn như những bức tường gạch và tất cả những cửa sổ đều biến mất.


ĐỢI

Mới ăn cắp của chính mình 7 năm trước

Tôi bắt đầu đợi cuộc đời
Sáng qua và cả ngày nay đã thế
Tôi đợi con chó láng giềng thức dậy
Để nghe tiếng sủa yên bình
Tôi đợi nắng lên khi trời sáng
Và mặt trời qua khỏi những đụn mây
Đợi ai chưa đến đời quanh quẩn
Đợi tiếng chân qua tiếng bạn già
Tôi đợi
Đợi cho hết ngày cho đêm tới
Cho cơn đói ngủ yên trong dạ dày
Tôi nằm đợi
12345
Bà hàng xén mắng đứa con chồng
Tôi đợi điều gì tôi chẳng biết
Đợi để biết mình đang sống
Đợi là mong chờ hay nghiền ngẫm
Tôi không biết
nhưng tôi cứ biết chờ
Biết đợi!
Đợi em nghe điện thoại
Đợi em rủ đi chơi
Đợi ở ngã tư đường ít bụi
Đợi ở quán cóc những lời ngu si
Đợi
Đợi nắng lên và ngày tàn xuống hẳn
Đợi bạn hiền
“Đợi thêm chút xíu nha”
Cho em nói chuyện với người yêu
Đợi em chút nữa nhé
Cho em gọi điện về cho mẹ
Đợi thêm chút nữa nhé
Đợi em gọi nốt cho bạn bè
À, đợi thêm một chút nữa
Em đi ra phố làm lại tóc
Để chiều nay đi chơi
“Anh này, chỉ một chút nữa thôi
Em xong ngay ấy mà…”
Ừ, khỏi lo
Tôi vẫn đợi


bene

Renew

Trời đổ mưa to khi chúng tôi lên đường đi Bari. Hãy còn một chặng đường dài qua băng qua nước Ý nhưng tôi cảm thấy gần như đang chia tay. Fauls cho xe chạy 120 km trong cơn mưa, chúng tôi tự nhiên không muốn nói chuyện hay bàn tán về những đề tài như những chặng trước nữa. Dường như Fauls cũng không muốn nói gì lúc này và cả tôi cũng thế. Tôi thả mọi cảm xúc mình trôi theo cơn mưa, lướt nhanh qua những hàng tuyết tùng đẫm nước hai bên đường. Chúng tôi đang băng qua đâu đấy gần San Martino Bassa. Mưa ngớt dần, tôi quay kính chắn gió cho một ít gió và nước hắt nhẹ vào. Tôi ngửi thấy hơi thở của những cánh đồng nước Ý, những giàn nho cuối mùa buồn bã rụng lá, những ngọn đồi oliu trải rộng vắt qua trùng điệp và dài khắp các thung lũng. Đôi lúc, đâu đấy trên những cánh đồng trống, những cây Cypress khẳng khiu vươn cao tít tắp và đâm một lỗ nhỏ vào cái khoảng trời rộng mênh mông xám ngắt và lạnh lẽo ngay trên chúng tôi. Mưa lại nặng hạt. Tôi bất chợt hỏi Fauls về Alexandra của hắn. Câu hỏi đấy thốt ra từ miệng tôi nhưng chính tôi cũng thấy nó như từ ngoài những cánh đồng kia vọng vào vì tôi hoàn toàn không một chút mảy may nào nghĩ về Alexandra vài giây trước. Tôi không ngụy biện làm gì nhưng thực tình trong cái khung cảnh gần căng đầy hết cả các cảm xúc này, câu hỏi đấy là một cách giải thoát. Tôi không mong đợi Fauls sẽ trả lời nhưng hắn bắt đầu kể vài phút sau đấy.

Đấy là chuyện tình đẹp nhất trong 35 năm cuộc sống của hắn. Fauls gặp Alexandra trong năm cuối cùng ở trường đại học. Họ sống cùng nhau ở Venice. Thoạt nghe tôi đã thấy đầy cảm giác tiểu thuyết tình yêu trong câu chuyện tình này. Nhưng đúng thế, Fauls kể về nó như đang nói đến thứ đẹp nhất mà thượng đế ban cho hắn. Nàng dạy cho hắn tiếng Ý, nàng mang hắn đi khắp đất nước ấy và mở ra cho hắn những khoảng trời lành lặn yên bình và hoàn hảo. Hắn và nàng đã trao cho nhau mọi thứ tốt đẹp nhất của tuổi trẻ, của mối tình đầu trong một thành phố đẹp như thiên đường. Rồi nàng đã rời đi khỏi hắn một thời gian dài. Nàng trở về nhà và chăm sóc bố nàng trong những năm cuối cùng của cơn bạo bệnh. Hắn trở về Đức tiếp tục đi làm, liên lạc của hắn và nàng cũng thưa dần và rồi không biết vì sao mọi chuyện đột nhiên biến mất. Câu chuyện tình yêu đẹp nhất của hắn giống như trở về với trang tiểu thuyết mà hắn vừa đọc. Hắn không dám chắc rằng mọi chuyện đã kết thúc nhưng cũng không dám chắc rằng mọi chuyện có thể tiếp tục diễn ra như kéo dài những ngày tháng đẹp trong trang tiểu thuyết ấy đến lúc nào. Họ không cãi nhau, không nói lời chia tay, không từ biệt nhưng chỉ còn nhớ về nhau như đã từng yêu nhau… Hắn thở dài “Đấy là món quà đẹp nhất”.

Nắng xé toạc khoảng trời xuyên xuống một quãng đồi phía trước chúng tôi. Đang băng qua đâu đấy đồng bằng Tuscany. Fauls cho xe chạy chậm hơn, sau câu chuyện dường như hắn muốn chìm sâu vào những tháng ngày đẹp ấy trong những ngày ngắn ngủi lưu lại trên đất Ý. Tôi gợi ý nên dừng lại đâu đấy uống chút cafe chờ ngớt mưa rồi đi tiếp. Hắn đồng ý và cho xe chạy vào trạm xăng gần nhất.

Bọn tôi ăn qua loa cái bánh mì với gỏi cá kẹp với ít oliu dầm, hai cốc cafe nóng. Tôi dạo quanh cửa hàng tìm mua vài CD để nghe trên xe. Toàn các CD tiếng Ý, tôi chả có chút khái niệm nào về nhạc Ý nên chọn cái CD có bìa tôi thích nhất. CD của Francesco de Gregori. Lúc tôi đưa cho Fauls cái CD hắn giật thót mình như đạp phải phân. Hóa ra đấy cũng là CD gắn với những ngày tháng cùng Alexandra của hắn.

Chúng tôi trở lại với con đường. Lúc này mưa đã nhẹ hơn. Tôi cho cái CD mới mua vào máy nghe được vài câu thì đã ngủ thiếp đi trong âm thanh đều đều của tiếng ghita gỗ và chất giọng buồn buồn của Fran. Trong giấc ngủ chập chờn tôi nghe thấy loáng thoáng trong bài hát bỗng có câu “faccia vietnamita”. Tôi bò dậy và tua lại bài hát nghe lại thật kỹ.

“Bene, se mi dici che ci trovi anche dei fiori in questa storia, sono tuoi
ma è inutile cercarmi sotto il tavolo,
ormai non ci sto più
ho preso qualche treno, qualche nave,
qualche sogno, qualche tempo fa

Ricordi che giocavo coi tuoi occhi nella stanza, e ti chiamavo mia,
e inoltre la coperta all’uncinetto, c’era il soffio della tua pazzia
e allora la tua faccia vietnamita ricordava tutto quel che ho.

E adesso puoi richiuderti nel bagno a commentare le mie poesie
però stai attenta a tendermi la mano,
perché il braccio non lo voglio più
mia madre è sempre lì che si nasconde dietro i muri
e non si trova mai
e i fiori nella vasca sono tutto quel che resta e quel che manca,
tutto quel che hai
e puoi chiamarmi ancora amore mio …”

Bài hát đấy làm tôi nổi hết cả da gà vì cái giai điệu và cả cái khung cảnh lúc đấy. Nó quá hay thì đã hẳn nhưng tôi muốn hiểu hơn về lời bài hát tại sao lại có “faccia vietnamita”. Sau khi nghe lại lần thứ 5, Fauls dịch lại cho tôi nghe đại ý của đoạn đầu.
Sau khi tôi lắp ghép ngữ pháp và thay ít từ thì nó thành ra thế này :

“Được rồi, nếu em tìm thấy hoa trong bài hát này thì nó là của em

Nhưng đừng tìm anh dưới bàn hay trên ghế nữa. Anh đã rời đi rất xa rồi, bằng những chuyến tàu, những con thuyền hay bằng cả giấc mơ. Anh đã đi rồi

Em có nhớ trong căn phòng mà anh đã chạm vào mắt em đấy

bây giờ anh không thể ngủ trong đấy nữa.

Trên chiếc giường ấy, chăn gối đã đẫm ướt sự cuồng dại của em…

Em ! Khuôn mặt Việt Nam của anh là tất cả những gì anh có thể nhớ…

Sau này tôi mới biết bài hát này được viết những năm 70. Fran viết về một người đàn bà Việt Nam bị điên và luôn đi tìm hoa. Điều cuối cùng Fran thấy là người đàn bà choàng một khăn trắng đứng trên cầu như chuẩn bị nhảy xuống. Fran thì ngồi trong xe lửa lướt nhanh qua và không biết cuối cùng điều gì đã xảy ra với người đàn bà ấy. Một bài hát mơ hồ đến nỗi tôi chắc chắn rằng chính tác giả cũng cảm thấy mơ hồ không kém khi viết.

Tôi nghe lại một lần nữa bài hát và thiếp đi thật sâu như khi vừa khóc xong một trận thật to. Cuộc sống này vốn có quá nhiều sự trùng hợp đầy bí ẩn !

bene-Francesco De Gregori


Ghi nhanh trong quán cafe Hà Nội

Quán vắng nên tiếng của ba chàng mặt thịt ngồi giữa quán mọi người đều nghe thấy.

_ Mày tiến sỹ rồi àh ? – Mặt thịt lớn nhất hỏi.
_ Vâng, em tiến sỹ rồi, lâu lâu cũng có đi dạy các tỉnh. – Mặt thịt đeo kính bé hơn trả lời.
_ Tiến sỹ thật àh ? – Mặt thịt ngồi giữa buông câu kháy.
_ (nhếch mếp) Vâng, em đi dạy các tỉnh oai phết, các em gái cứ một thầy hai thầy răm rắp.
_ Đổi tình lấy điểm àh ? – Mặt thịt lớn hỏi, cả 3 cười giòn.
_ Năm nay tao cũng cố lấy cái tiến sỹ thôi, không cần học thật cũng được. Ngồi với bọn mày cho ngang vế. – Mặt thịt ngồi giữa thở dài.
_ Loại mày tiến sỹ làm chó gì, buôn nước bọt thôi. Như tao đây này, cần quái gì tiến sỹ đấy, tao thổi hàng thì bất cứ thằng tiến sỹ nào cũng tin sái cổ. – Mặt thịt lớn tăng âm lượng và chém gió về trình chém gió của mình. Hai mặt thịt kia ngồi nghe gật gù ra chiều si mê lắm.

_ Quay lại chủ đề chính tí nhé. – Mặt thịt tân tiến sỹ nói.
_ Chả là em muốn về chỗ anh Tiến ngân hàng xyz, nghe nói ảnh mới lên phó tổng. Anh là chỗ quen biết nhờ anh có lời !
Mặt thịt lớn rút điện thoại.
_ Anh Tiến àh, hề hề …
(thằng nào đấy ? – Anh Tiến hỏi.)
_ Em Quân đây, Quân béo đây, úi giờ anh quên thằng em rồi àh ? Dạo này anh khỏe không ? Nghe nói anh mới lên phó tổng em gọi điện hỏi thăm ấy mà. Àh, em có thằng bạn mới làm tiến sỹ (Quản lý rủi ro), hề hề, dạ tiến sỹ thật anh ạh, giỏi lắm ! Nó muốn thể hiện năng lực, muốn được làm dưới anh vì nghe nói anh Tiến rất ưu đãi hiền tài, là bậc minh chủ, hề hề ! Vâng, tối anh cho bọn em ghé qua nhà tí được không ạh… Vầng, em cảm ơn anh ạh !

Mặt thịt lớn dập máy, bốn con mắt của hai mặt thịt kia tròn xoe thán phục.

_ Tao mà thổi hàng thì khỏi nói, mày yên tâm nhé ! Có cầm đạn đấy không ? Chuẩn bị tối qua anh Tiến nhé. Mày cũng kiếm cái PGS đi dần dà làm GS chứ đi dạy đổi tình lấy điểm không có mấy cái đấy cũng lạc hậu.

_ Vâng, em sẽ cố ! Cảm ơn anh quan tâm. – Mặt thịt tiến sỹ đeo kính khép nép hơn, mặt tươi hơn, ra chiều hớn hở lắm.

Cả bọn gọi mồi bia ngồm ngộm nhậu.

Tôi uống nốt cốc cafe vừa gọi, bỏ quyển sách định đọc vào túi rồi đứng lên đi về. Tìm một chỗ ngồi yên thân thật khó .


daysleeper . R.E.M

Hôm nay biết anh em R.E.M chính thức tan rã mình buồn kha khá. Một trong những ban nhạc khiến mình thay đổi tư duy và cách cảm nhận về âm nhạc. R.E.M được thành lập đúng năm mình được sinh ra và tan rã sau sn mình vài ngày. 31 tuổi là một tuổi đời khá cao cho một ban nhạc, nhất là ở thời đại này.

R.E.M khiến tôi tôn trọng hoàn toàn trong cả âm nhạc, quan niệm về nhạc và cả các thành viên của ban. Họ viết về những vấn đề lớn trong một con người nhỏ để phản ánh một xã hội đang chuyển động. Luôn bằng một cái nhìn điềm đạm, nhẹ nhàng, tinh tế, ngôn ngữ và nhạc tính tự nhiên đi vào đầu người nghe theo cách của người bạn thân đẩy cửa bước lên gác xếp để gọi mình dậy đi uống cafe vào buổi sáng.

Tôi bắt đầu biết tham gia ở các diễn đàn chém gió này nọ bằng cái nick “daysleeper”, nick của bạn Báu lập cho tôi. Không biết vì sao mà thằng bệnh đấy lập cho tôi cái nick này nhưng từ đấy mọi người hay gọi tôi là “days”. Lại một lần nữa R.E.M ảnh hưởng đến tôi kha khá ! hehe

Chúc Michael Stipe và đồng bọn chia tay trong yên bình ! Tiễn đưa một ban nhạc alternative vĩ đại nhưng giản dị. Cảm ơn những thành viên của ban đã bỏ ra 31 năm để nuôi sống một R.E.M bất hủ !

(daysleeper là tên một trong những bài nổi tiếng của R.E.M )

R.E.M.-Losing My Religion

R.E.M. Daysleeper

R.E.M. Everybody Hurts


Hoang đảo (3)

Thời gian…

Thời gian là tất cả những gì tôi có, nhưng thời gian không mang lại thời gian nữa.

Tôi nhớ lại câu này khi tháo cái đồng hồ dây da trên xác chết đã thâm tím vì nước biển. Đấy là xác chết của một người phụ nữ trung niên, cơ thể cô ấy đã bầm dập đến nỗi tôi mất hơn một phút để nhận ra giới tính. Những con mòng biển chao lượn ngay trên đầu tôi như cái xác chết kia là một con cá lớn. Tôi chắc rằng nếu mình không phát hiện ra xác chết này thì hôm sau nó chỉ còn là bộ xương vì lũ mòng biển sẽ ngấu nghiến hết tất cả. Những con chim đẹp đẽ ấy sẽ có một bữa tiệc trên xác người.

Tôi đào cái hố trên đụn cát không xa mũi hảo vọng để chôn cái xác. Việc khó khăn nhất sau cùng là làm một tấm bia mộ, tôi khắc lên khúc cây khô đã bóc vỏ “mộ của một người đàn bà”. Tôi lấy cái đồng hồ trong túi móc lên ngọn bia mộ. Sợi dây da lất phất trong gió chiều khiến tôi rùng mình, tôi chớm nghĩ về chiếc đồng hồ như một món quà của thượng đế cho tôi. Ngài gửi cho tôi thời gian bằng cách giết chết một người hay gửi cho tôi một đòn tra tấn man rợ nhất qua chiếc đồng hồ này. Tôi cần nó làm gì trong khi tôi đã có tất cả những thứ tôi cần.

Ngắt vài cọng muống biển đang nở hoa, tôi trồng quanh khu mộ để đánh dấu. Xong xuôi tôi kéo lưới lên bè và quay về, một ngày dài trôi qua với cảm xúc về đất liền, một nỗi nhớ ngại ngùng về đất liền.

Tôi giam mình hai ngày liền trong lều, không làm việc gì ngoài ngủ và tỉnh dậy sau cơn mơ nhìn thấy các xác đào mồ thức dậy. Những con chim mòng biển chao đảo đậu trên vai người đàn bà. Cô ấy lê những bước chân trên cát về phía biển và vẫy tay gọi chới với ra biển. Tôi rùng mình đứng lên, đầu đau nhức kinh khủng, tôi cố chạy nhanh về phía ngôi mộ như bị ma đuổi sau lưng, chạy như trong giấc mơ, giống như ai đấy bắt tôi chạy. Ngôi mộ vẫn nguyên vẹn, những cây muống biển đã nở hoa trên mộ. Bia mộ đã mọc chút rêu xanh, cái đồng hồ đọng ít hơi hước trên mặt kính nhưng vẫn chạy đều. 5g28 phút, nghĩa là tôi đã mê man gần 2 ngày sau khi chôn cái xác.

Tôi dạo một vòng ra bờ biển và nhặt được nhiều dấu hiệu từ đất liền. Những mảnh nhựa từ một chiếc tàu du lịch đã bị sóng đánh vỡ toác, những miếng vải của buồm, mấy lon bia và đồ hộp. Người đàn bà tôi đã chôn chắc là chủ nhân hay người đi trên thuyền đấy. Hẳn chiếc thuyền đã bị đánh úp trong cơn bão tàn bạo hôm trước. Tôi gom tất cả những thứ nhặt được về lều, nhóm lửa đun nóng lon thịt hộp, mở lon bia và thưởng thức món quà từ đất liền.

Giá như sóng đánh vào cho tôi thêm một cái radio hay một máy nghe nhạc thì đã là một món quà tuyệt vời. Cảm giác lúc đấy tôi thèm nghe tiếng người đến ứa nước mắt. Tôi hằn học ném mạnh lon bia đang uống vào vách đá, tôi ném tất cả mọi thứ trước mặt vào vách đá và bực tức hét lên.

Tại sao không phải là một người còn sống ? Tại sao không phải một con chó hay một cái radio mà là một xác chết, tại sao cứ bắt tôi nhớ về đất liền, nhớ về những điều tôi cố quên, tại sao chứ…?

Nhiều ngày sau đấy tôi không đi ra biển nữa, tôi chìm sâu vào khoảng ký ức về đất liền và ngồi bất động trên thềm đá trước lều, gần như tôi không ăn gì, chỉ uống nước trái cây lên men và lờ đờ say. Tôi không có ý định phá hủy thân thể mình hay đúng hơn là không có ý niệm về việc đấy. Chỉ là tôi thấy chán ghét cái hòn đảo mà tôi đã tự đưa mình lên đấy, tôi chán ghét cái ý tưởng đã đưa tôi lên đây và chán ghét cả cái đất liền đã làm tôi nảy ra cái ý tưởng điên khùng này. Tôi chán ghét tất cả.

Mùa mưa bắt đầu lại kéo về, những ngọn gió lạnh mang theo hơi muối biển thổi từng hồi, chúng hú nghiệt ngã qua tai, chúng thổi tốc mái nhà và mưa bắt đầu rơi. Tôi rét căm và nằm bẹp xuống hốc đá giống như cái cây non lần đầu hứng chịu cơn mưa nhiệt đới. Từng lớp lá trên mái nhà bị thổi bay để trơ lại trên đầu một khoảng trời xám ngoét, màu xám ghê rợn ấy tím dần đến đen khịt. Chỉ còn lại tiếng gió rít như tiếng cưa đang cưa ngang qua thân thể tôi. Nỗi cô đơn, nỗi sợ không gian, sợ bóng tối đến tột cùng của một linh hồn thoi thóp thở trên hoang đảo. Tôi chợt thấy mình giống như cái xác dưới nấm mồ chính tôi đã chôn. Một cái xác còn thở nhưng không còn sống, cái xác đang bị lôi kéo giữa địa ngục và hoang đảo. Phân vân trong sợ hãi giữa địa ngục tăm tối và trần gian cô độc và lạnh lẽo. Tôi kiệt sức lịm đi mặc cho những cơn mưa tát từng hạt đau rát lên mặt, xuyên thấu xương tủy, xuyên thấu cái xác tôi còn thở …


Hoang đảo (2)

Hoang đảo-một ngày đẹp trời

Nắng hong khô những giọt sương trên tấm liếp lá dừa, luồn qua khe rọi thẳng vào mắt làm tôi thức dậy sớm hơn mọi ngày. Đã nhiều tuần nay trời u ám và biển động nên tôi không có lấy một bữa ăn nghiêm túc khiến người đói lả và rã rời từng bộ phận. Tối qua tôi đã uống nốt chỗ rượu dừa còn lại đến say lịm và ngủ mê man.
Nắng càng lúc càng gay gắt như tiếng mẹ tôi đánh thức tôi dậy đi học vào mỗi sáng. Không thể nán lại lâu hơn, tôi choàng dậy kéo tấm liếp cho nắng ùa thẳng vào. Quả là lâu lắm rồi mới có một ngày đẹp trời. Tôi đi ra sân và nhận được một món quà nhỏ cho bữa sáng, đấy là cái tổ chim mòng biển với ba quả trứng còn nguyên vẹn. Chắc là đêm qua gió quá to đã làm gãy cành làm nó rơi xuống đây. Trong cơn đói lả, tôi không muốn suy đoán thiệt hơn nữa mà đi nhóm lò làm món ốp la trứng chim.

Món ốp la trứng chim ăn với một ít bánh ngô nướng duy nhất còn lại. Tôi quyết định hy sinh một ít hạt cafe giống để thưởng thức trọn vẹn một buổi sáng đẹp trời. Tôi pha rang một ít cafe, nghiền nhuyễn và lọc cafe bằng lớp sơ dừa. Tôi bày bữa sáng của mình trên cái bàn đá ngoài sân. Nơi tôi có thể nhìn mặt trời một cách rõ ràng nhất.
Bữa sáng kết thúc với một điếu thuốc lá cuốn. Nói về thuốc lá tôi lại nghĩ đến việc đã tìm ra nó. Hôm ấy cũng là một ngày đẹp trời thế này. Tôi đi dạo trong khu rừng nhỏ ven suối và phát hiện ra chúng. Ban đầu tôi nghĩ chúng là cây cải con vì tôi chưa được thấy cây thuốc lá con trông thế nào. Nhưng nếu có nhìn thấy thì tôi cũng không thể tưởng tượng nổi bằng cách nào trên cái hòn đảo chết tiệt này lại mọc lên cây thuốc lá. Tôi đã nếm thử một ít lá mầm, chúng có mùi hăng hắc và cay nồng hệt cây cải con. Thế là tôi rào khu vực đấy lại và ghi chú lên tấm bảng gỗ là “ruộng cải”. Mỗi lần phát hiện ra một giống cây lương thực mới trên đảo người tôi như sướng run lên. Thậm chí đến đêm tôi còn mất ngủ chút chút để nhớ lại các kiến thức gieo trồng chúng. Lúc phát hiện ra cây cafe là lúc tôi vui sướng nhất kể từ ngày lên đảo, tuy nhiên phát hiện ra cây cải con cũng là một niềm vui không kém. Tôi cứ nghĩ mãi về món ngồng cải chấm trứng hay món dưa cải chua, tôi nuốt nước bọt ừng ực.

Mãi đến hai tuần sau tôi điên tiết lên vì chúng không phải là cây cải. Ban đầu tôi định nhổ hết chúng nhưng sực nhớ lại những ruộng thuốc lá trên đường đến trường lúc bé, tôi ngờ ngợ nên thử ngắt một lá phơi khô.
Có những niềm vui vô bờ bến, những niềm vui đến phát khóc từ những điều vớ vẩn mà nếu sống trên đất liền không bao giờ cảm được. Lúc chắc chắn đám cải kia là cây thuốc lá, tôi đã sướng điên lên, chạy khắp sân và hò hét như dại. Đấy là ngày thứ 785 trên đảo, tôi đánh dấu trên cột thời gian dòng “tìm thấy cây thuốc lá” bằng nhựa cây trộn với bột sao biển đỏ.

Tôi có ba loại sơn để đánh dấu các ngày trọng đại trên cây cột thời gian. Nhựa dương liễu pha với bột sao biển đỏ cho những ngày phát hiện điều mới mẻ như “tìm thấy cây cafe”, “bọn cua đã đẻ”. Bột sơn đen từ vỏ cây đánh dấu những ngày buồn như “thèm một miếng thịt ba chỉ chấm mắm tép” hay “giá mà có cái máy tính nối mạng ở đây”. Bột trắng pha từ vỏ trứng chim đánh dấu những ngày nhớ nhung như “Sinh Nhật P” …

Miên man một hồi mặt trời đã đổ bóng 10g sáng, tôi lên lịch cho một ngày làm việc mới. Một ngày đẹp trời như khiến người ta thấy yêu đời trở lại. Thế mới thấy loài người cần nắng để sống chứ không phải tiền hay Iphone như bọn trên đất liền. Đầu tiên tôi lôi túi hạt giống ra phơi phóng. Hạt cafe, dưa hấu, thuốc lá, đậu trắng, ngô, lúa mạch, củ hành tây, hạt cà chua và củ khoai tây. Mấy hôm nay trời ẩm nên một ít củ khoai tây đã lên mầm. Tôi quyết định trồng khoai tây và ươm thêm một ít ngô. Việc đồng áng xong cũng đã đến trưa, tôi nướng hai quả ngô và ép một cốc nước lựu cho bữa trưa. Sau khi nghỉ ngơi một giờ tôi sửa soạn lưới đánh cá và kéo cái bè ra biển.

Trời xanh ngắt, sóng vỗ nhẹ hứa hẹn một ngày thu hoạch tốt. Tôi dong bè hướng ra mõm đá mà tôi đã đặt tên là mũi hảo vọng. Thả hết mẻ lưới, tôi căng tấm buồm được bện bằng sợi đay lên đón hướng gió. Tôi châm một điếu thuốc lá, nằm ngửa ra trên bè mặc cho sóng tạt nước vào mặt, tôi giữ cho điếu thuốc không ướt và nhả khói lên cái bầu trời trên kia. Lúc này bầu trời ấy mới bé nhỏ tội nghiệp làm sao vì tôi thấy mình bỗng nhiên vĩ đại qua làn khói, dưới ánh nắng và trên chiếc bè con. Tôi thấy sự tồn tại của tôi trên mặt biển này giống như sự cứu rỗi cho cái bầu trời đáng thương xanh thẫm kia, vì nếu không có tôi vĩ đại đây, bầu trời kia dường như cô độc. Ha ha, tôi cười lớn và chỉ tay lên đấy hét vang “Mày hiểu chưa!!!”.

Chiếc bè đón gió lượn một vòng cung lớn song song với mũi hảo vọng, dường như là một mẻ cá lớn nhất từ trước đến nay tôi đã từng đánh. Lúc này chỉ là cảm giác thôi nhưng tôi tin là thế vì cái buồm vẫn căng đầy gió mà chiếc bè lại trôi chậm hơn bình thường chứng tỏ sức nặng của mẻ cá khá lớn. Tôi dong buồm và chỉnh mái chèo vào bờ.

Lúc này nắng đã dần khuất bóng những cây dừa trên đảo, bọn mòng biển dáo dác đông hơn bình thường trên mũi hảo vọng. Bất thần từ mõm đá lóe lên một ánh chớp hắt vào mắt tôi, cách xa đấy 700 mét tôi đã nhận ra đấy là ánh sáng phản chiếu từ một mặt kính hay cái gì đại loại thế. Một chút hồi hộp, tôi dong bè về hướng đấy. Tôi đã nổi hết gai ốc khi phát hiện ra ánh sáng phản chiếu từ chiếc đồng hồ đeo tay của một xác người nữ đang nằm vắt qua khe đá. Khựng lại trong chốc lát, lấy lại bình tĩnh, tôi neo buồm và tiến gần đến cái xác. Bọn mòng biển tản ra tan tác. Gió chiều bắt đầu lạnh khiến người tôi run lên bần bật. Tôi run vì lần đầu tiên nhìn thấy người sau hơn hai năm ở đây, dẫu đấy là một cái xác.


Hoang đảo (1)

Lúc nhàn cư, tôi cố giữ đầu óc mình bất định bằng cách nghĩ về cuộc sống trên hoang đảo của tôi. Đã khá lâu kể từ ngày đầu tiên tôi nghĩ về nó, như mọi ý nghĩ thoáng qua, nhưng chỉ riêng nó quay lại và phát triển. Cứ như vậy, những lúc nhàn rỗi tôi lại sống trên hoang đảo ấy. Bằng một cách nào đấy như rớt máy bay, đắm thuyền hay sóng thần cuốn trôi đi… Tôi tỉnh dậy trên một hoang đảo ở đâu đấy trên thái bình dương… Đây là tình huống xấu nhất sau khi xảy ra một trong các tai nạn trên. Tôi không chết mà tiếp tục sống trên hoang đảo. Thật thế, tôi luôn nghiêm túc đặt mình trên cái hoang đảo ấy và tự kiểm tra lại các kỹ năng để tồn tại được trên đấy. Cũng như kịch bản film Cast away hay truyện chú Robinson vậy, duy có điều khác là tôi luôn ở trạng thái sẵn sàng cho cuộc sống như vậy trên hoang đảo…

Quay về một tí với thực tại, tôi thức dậy lúc 8g30, uống cafe sáng và bắt đầu làm việc lúc 9g30. Thường kết thúc công việc lúc 21g và tìm một góc nhỏ uống vài chai bia trước khi về nhà. Nhà tôi là cái tổ chim trên tầng 4 của một khu tập thể xây vào những năm 80. Ở đấy tôi cố giữ mọi thứ tồn tại đúng như những năm 80. Không internet, không tivi và gần như không ánh sáng. Trung bình một ngày tôi nói khoảng 50 câu đại loại như “Cho cốc cafe” , “em in cho anh bản vẽ này” “cảm ơn”… Một cách vô hình, cái hoang đảo kia lần xâm chiếm cuộc sống thực tại của tôi, bào mòn mọi mối quan hệ chớm nở và dập tắt mọi liên hệ với xã hội cận kề…

Đầu tiên là tìm nước ngọt trên hoang đảo. Tôi cố giữ mình suy nghĩ thật ít vì sẽ khá tốn năng lượng. Mọi tình huống tôi đã giả định trước đó nên không cần phải suy nghĩ nhiều hơn lúc này. Chỉ cần hành động. Nếu là một hoang đảo rộng chừng 1 ha thì cơ may có nước ngọt là rất hiếm, ấy vậy mà tôi vẫn tìm thấy một khe suối nhỏ cách bờ biển chừng năm trăm met. Kinh nghiệm sống ở rừng đã dạy tôi không vội uống thứ nước đấy khi chưa được nấu sôi. Tôi tìm thấy những cây dừa ở gần bờ biển, đây là nguồn nước ngọt cũng như thức ăn chính cho tôi để bắt đầu cuộc đời hoang đảo. Sở dĩ tôi chọn đảo ở thái bình dương là vì khả năng sẽ có những cây dừa. Tuy nhiên, kỹ năng đầu tiên bạn cần phải có khi muốn tồn tại trên đảo hoang thái bình dương là trèo dừa và bóc dừa bằng tay không. Kỹ năng này thì tôi thuần thục từ những năm lên 10 tuổi. Sau khi lấy lại sức lực bằng nước và cơm dừa, tôi bắt đầu lên kế hoạch cho những việc cần làm. Dệt lưới bắt cá, làm bẫy kỳ nhông, gom lá dừa khô, tìm vị trí tốt để dựng tạm một cái chòi. Thực ra tôi đã tìm thấy vị trí hoàn hảo chỗ ngọn đồi đá gần khe suối. Ở đấy có một cái hốc lẹm vào 2 mét sâu và gần 2 mét cao. Tôi chỉ cần dựng thêm cái mái lá phía trước khoảng sân bằng phẳng rộng 15m2. Từ đấy tôi có thể nhìn thấy biển và bao quát tất cả bờ biển. Thật là một hoang đảo tốt để làm resort !

Tiếp theo là đi một vòng đảo để tìm các giống cây. Cây làm quần áo, giày dép. Cây làm xà nhà, cây làm thức ăn, những cây độc để bẫy cá và cây thuốc để phòng khi trái gió trở trời. Gần như tôi đã tìm liệt kê và đánh dấu vị trí của từng cây trên bản đồ hoang đảo. Khả năng sống sót trên hoang đảo cao hơn với những người nghiền thuốc lá vì họ luôn mang theo lửa. Tôi cũng luôn mang theo lửa. Tôi nhóm bếp và nướng hai con cá đánh được hôm nay, ăn kèm với cơm dừa và một chút nước dừa béo ngậy. Xong tôi chui vào cái hốc đá đánh một giấc ngon lành. Đêm đầu tiên trôi qua trên hoang đảo thật nhẹ nhàng. Ngày hôm sau tôi dành nhiều thời gian thiết kế một cái tủ lạnh để giữ thức ăn. Đấy là một hốc đá nhỏ phía sau những lạch nước chảy ra từ ngọn đồi đá, tôi gom vỏ trái dừa, tạo xốp và lót kín hốc đá. Thể tích tủ lạnh không lớn lắm nên tôi chỉ ưu tiên trữ những trái cây chín và những con cá đã qua sơ chế. Giá mà có bia nữa thì tốt …

Thấm thoát đã có 30 vạch ngày trên cây cột thời gian trước sân. Tôi đã sống một tháng ở đây và luôn giữ cho mình bận rộn với công việc. Tôi đã hoàn thiện các bản thiết kế cho ngôi nhà mới, lên kế hoạch xây dựng, liệt kê vật tư và thiết bị. Điều đáng mừng là tôi tìm thấy một ít cây lúa mạch và cây thuốc lá dại. Nó có nghĩa là trong một vài tháng tới tôi có thể sinh hoạt như cuộc sống trước đây của tôi trên đất liền. Sẽ có bia hay ít ra là rượu dừa và xì gà vào cuối ngày. Cái ý tưởng đấy làm tôi lao động hăng say hơn, tôi chia thời gian thành 4 phần cho một ngày, phần một là buổi sáng tôi dành cho việc đồng áng. Tôi cải tạo khoảng đất chừng 500m2 bên suối để trồng xuống những cây nhu yếu. Phần hai là buổi trưa, tôi dành một giờ để nghỉ ngơi và sau đấy là đánh bắt và hái ít trái cây cho vào tủ lạnh. Từ 3g đến 5g chiều tôi đi tìm và gom vật liệu theo bản thiết kế. Phần cuối là khoảng thời gian để thư giãn, nấu ăn và viết lách một chút. Tôi cũng hơi ngán món cá và kỳ nhông nướng với cơm dừa nên dạo này tôi thường ăn 3 quả trứng chim rán với nước ép trái cây lựu cho buổi tối.

Sách là thứ duy nhất khiến tôi không có cuộc sống giống ở đất liền. Ở đây hẳn nhiên tôi không có sách nên tôi cũng dành chút thời gian bên bếp lửa cuối ngày để tạo ra chúng. Tôi cố gắng viết về nội dung và nhận xét cho những quyển sách mà tôi đã từng đọc. Điều này thật sự là một việc khó với tôi, tuy nhiên nó có ích cho cuộc sống hiện tại nên tôi cố duy trì khoảng thời gian cho việc này. Tôi phân loại lịch sử, nghệ thuật, khoa học và tiểu thuyết cho giá sách của tôi. Tất nhiên tất cả chúng đều là vỏ cây. Đôi khi tôi cũng tìm thấy ý kiến thức có ích trên giá sách ấy, nhất là mảng khoa học. Tôi ứng dụng nhiều kiến thức cho việc đánh bắt, cách làm đèn và tạo ra dầu ăn. Tôi viết trong hai tháng ròng thì hết tất cả những gì tôi đã được đọc. Lúc này tôi thấy hơi tiếc vì trước đây tôi đã bỏ nhiều thời gian cho bia rượu nhiều hơn là sách vở …

Nhưng tôi vẫn tiếp tục viết, lúc này tôi viết về khoảng thời gian trước ở đất liền … Nó cũng chỉ là những mẩu vụn về tình yêu, những người tình một đêm, những đêm say, những chuyến đi hoang và những lần gặp nạn trên đường. Lúc viết tôi mới thực sự nhận thấy nỗi cô đơn của mình. Nhưng ở đây, cuộc sống trên hoang đảo nó tuyệt vời hơn bất cứ một cộng đồng văn minh nào ở chỗ bạn chắc chắn là một người cô đơn. Một cách hoàn toàn và rõ ràng như thể cô đơn đang ngồi sát bên bạn và im lặng ngắm nhìn bạn đang chậm chạp viết nó ra trên vỏ cây. Ở đất liền, ý tôi là khi ở một cộng đồng người, bạn luôn chơi trò đuổi bắt với cô đơn. Đôi khi hy vọng tối nay không cô đơn vì bắt gặp một cô nàng tình cờ trong quán rượu. Đôi khi thèm thuồng được ngồi một mình khi đang dự một buổi tiệc… Những cảm giác ấy chắc chắn sẽ không bao giờ có tại đây, hoang đảo thái bình dương. Đêm nay có vẻ trời có giông lớn. Tôi hạ những tấm mành lá xuống, quây đống lửa tránh được hướng gió, xem xét lại chỗ cất hạt giống, cái giá sách cũng được che đậy kỹ. Tôi kéo tấm chăn bện từ sơ dừa và cỏ khô, uống ngụm rượu dừa trong mẻ rượu mới nấu. Tôi thiếp đi trong tiếng sóng biển, gió rít qua những khe nhỏ của cái mành liếp.

Bonus : cách làm cá nướng ống tre

nguyên liệu :

-cá mú biển hay tệ nhất là cá lóc (cá quả của người miền bắc). Nếu chọn cá lóc thì nên chọn cá lóc hoa. Loại này thịt chắc và thơm hơn.

-lá chanh, quả óc chó, chanh tươi, hành tím, tiêu xanh, nước mắm cốt (muối ở hoang đảo) và một ít vang trắng.

-một đốt ống tre đực tươi (phần thân là tốt nhất vì không quá dày và không đọng nhiều nước) và lá chuối khô.

Cách làm : làm sạch cá, tách ruột (không nên vứt ruột cá đi vì nó là phần ngon nhất). Tách sạch các gân máu trong bụng cá (vì các gân máu là nguyên nhân làm tanh). Ruột cá sau khi làm sạch được nhồi ngược lại bụng cá. Tạo các khứa vòng quanh thân cá cách đều 1,5 phân. Nhồi lá chanh, quả óc chó, tiêu xanh, củ hành tím vào đầy bụng cá. Ướp cá khoảng 30′ với dung dịch nước cốt và vang trắng. Tráng một lớp dầu mỏng vào lòng trong của ống tre và thả cá vào, lèn chặt lá chuối khô ở đầu và nướng trên bếp than. Để cách than tầm 5 phân và nhớ quay đều ống tre. Sau khi ống tre bay hết nước và bắt đầu than hóa thì có thể chén cá. (Quá trình nướng mất tầm 20 phút )

Trình bày : cho cá lên đĩa, kèm với lá ngò, húng, ngổ và vài lát chanh

Chén kèm với rượu vang trắng (tốt nhất là dòng pinot). Have fun !

Khuyến cáo : cách làm riêng của tôi ở hoang đảo nên nếu các bạn làm theo cách trên thì không nên so sánh với các cách của google.


Trong vườn nho châu phi

Trong vườn nho trưa nắng trời châu phi
Những quả nho mới nhú màu roi rói
căng mọng đón chờ một tương lai tròn trĩnh
rung rinh dưới tán lá gân xanh, gầy guộc
những quả nho hồn nhiên hút mồ hôi sa mạc

Cô gái da đen như mùa nho tím
đội khăn ngũ sắc, cầm bình thuốc sâu
Cô bơm vào quả nho, cành nho và lá nho
những quả nho trưa nắng trời châu phi
thâm đen, rơi rụng

Cái khăn ngũ sắc túa mồ hôi
giữa trưa nắng, ánh mặt trời châu phi…

Tôi nằm dưới những bụi nho
tránh nắng
sau mấy ngày đường không bóng cây
chỉ có bóng tôi, chỉ có những cánh đồng đầy cát
và những cơn khát và những ngọn gió tát

Những ngọn gió trong vườn nho châu phi
thổi bay mồ hôi trên môi người đàn bà châu phi quấn chiếc khăn ngũ sắc

Đọng trên những quả nho thành rượu
nước mắt của cánh đồng, nước mắt của châu phi
đọng trên những quả nho trong vườn nho châu phi…