Mỳ Quảng

Tựa như một tháng không đi đâu ra khỏi Hà Nội là người trở nên ù lì, cơ thể bần thần nặng nề với khói bụi, với các món ăn bẩn, với những câu chửi bới nghe thấy hàng phút giây ở những nơi công cộng. Mãi tôi vẫn không thể hiểu được vì sao người ta gọi Hà Nội là “thủ đô văn hóa”. Có lẽ “văn hóa” ở đấy là tất cả các thứ vô văn hóa trộn lại mà thành.

Chính xác là người ta cần những ký ức đẹp cho những lúc như thế này. Những lúc nhìn thấy thức ăn là muốn nôn ra ấy. Tôi nhớ món mỳ Quảng quê tôi kinh khủng. Đấy là thứ duy nhất tôi tự hào về quê hương, cách nấu các món ăn, cách thưởng thức các món ăn và cách nghĩ đến nó. Trong những năm đầu tiên mang sách đến trường, tôi luôn phải đi bộ thật xa băng qua những cánh đồng, những quả đồi đất mọc đầy cỏ lau và đầy những hố bom lớn, những hố đào của  người tìm phế liệu sót lại sau chiến tranh. Mọi khả năng cảm nhận của tôi có lẽ đã được rèn luyện theo cách đấy. Đường đến trường xa  nên tôi luôn đi học sớm hơn vài tiếng. Nếu đi học buổi chiều thì tôi không kịp ăn cơm nhà nên phải ăn cái gì đấy khi gần đến trường. Mẹ tôi cũng là giáo viên trường làng, bà trả tiền cho tôi ăn hằng tháng ở một quán mỳ Quảng ven đường cách trường chừng 1km.

Quán thời đấy không đông đúc tấp nập như bây giờ, vả lại ở quê thì họa chăng một ngày bà ba chủ quán bán được 5 bát mỳ đã là đắt hàng lắm rồi. Vì thế mà tôi là khách V.I.P của quán. Đôi khi vì hết mỳ hay sợ ế hàng nên bà ba không tráng mỳ trước, có lúc tôi phải ngồi đợi bà tráng mỳ rất lâu. Nhưng tôi lại rất thích cái thời gian ngồi đợi ấy, lúc đấy thì tôi không giải thích được vì sao tôi thích, nhưng bây giờ nếu có đói lả mà bắt phải đợi bà ba tráng mỳ mới được ăn thì tôi cũng sẽ đợi được vài giờ.

Mỳ Quảng làm từ bột gạo, cách làm cũng giống như là bánh tráng trong nam hay bánh đa ngoài bắc nhưng lúc tráng mỳ thì tráng dầy hơn. Tráng xong cho ra mẹt lá chuối, thoa lên một ít dầu phộng rồi lại tráng cái mới chồng liên tiếp lên như thế. Thoa dầu phộng cốt để cho các lớp bánh không dính vào với nhau và khi ăn cũng đã khá béo và thơm rồi. Bà ba thường chỉ tráng vài cái bánh một lần, bà cắt mỳ thành từng bản dầy tầm 1,5 phân cho vào các bát đất. Nước dùng thì lúc nào cũng nóng bên cạnh bếp củi tráng mỳ. Cách làm nước dùng thời đấy đơn giản hơn bây giờ vì không có nhiều nguyên vật liệu. Chỉ ninh xương ống heo rồi um thịt ba chỉ với hành và gia vị cho vào. Một ít màu ớt và tiêu. Nhưng bát mỳ của thời đấy có cái vị đặt biệt mà chắc chắn bây giờ không thể làm được đấy là mùi. Trong sợi mỳ lúc nào cũng có mùi đượm khói bếp và mùi dầu phộng rất nặng. Hơn nữa khi um thịt bà ba thường dùng củ nén (một loại củ cùng họ với hành nhưng bé hơn và nồng hơn).

Bà chan nước dùng xấp xấp cái đáy bát mỳ, cho thêm ít rau hoa chuối, ít hành lá tươi rồi đưa cho tôi. Thường tôi phải hít đầy cái khói bốc lên từ bát mỳ rồi mới bắt đầu đánh chén. Nhiều khi đến cuối tháng mẹ tôi tính tiền mỳ cho bà ba thì hết 1/3 lương của mẹ. Đến lúc tôi được đi xe đạp đến trường thì cũng không còn ăn mỳ của bà ba nữa, nhưng lúc nào đi ngang qua tôi cũng nhìn cái quán mái tranh thấp lè tè ấy, nếu có khói bốc lên tôi sẽ đạp xe thật chậm để hít đầy cái khói bốc lên từ quán mỳ bà ba.

Advertisements

About daysss


Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: