Monthly Archives: Tháng Mười Hai 2009

Hồ Scutari

Chúng tôi đến bến phà Bari lúc trời chập choạng chiều chủ nhật. Các chuyến phà đi Montenegro đều bắt đầu vào sáng thứ 2. Nếu ở lại Bari một đêm thì cũng hay nhưng lại nhỡ hẹn với bố mẹ Fauls mất. Chỉ còn chuyến phà cuối cùng đi Albani, tôi đề nghị Fauls đi Albania rồi vượt biên giới Albania qua Montenegro về nhà. Ban đầu Fauls đắn đo vì hắn chưa đi chệch lịch trình như thế bao giờ. Với một người Đức khác thì ý tưởng của tôi là một điều gì đấy rất điên rồ. Nhưng với Fauls, hắn luôn có phương án hai. Chúng tôi mở bản đồ ra xem lộ trình, tính lại thời gian và quyết định mua vé đi Albania. Cô bán vé dân gốc Bari nói tiếng Anh pha một ít đông âu, một ít Ý nghe rất vui tai. Sau 20 phút gọi điện cho các nơi hỏi giúp cái visa Việt Nam của tôi có thể đi Albania được không. Cô cười rất tươi khi có kết quả chính xác từ hải quan là không vấn đề gì. Cô đóng thêm một dấu cảng Bari vào hộ chiếu và trao cho tôi kèm lời chúc tốt đẹp.

Phà mất 12 tiếng băng qua biển Adriatic, chúng tôi đến cảng Durres của Albania lúc hơn 7g sáng. Trời lấm tấm có mưa. Ấn tượng đầu tiên của tôi khi nhìn thấy thành phố cảng là sự thân thuộc. Nhìn xa xa nó không khác Hà Nội là mấy, cũng cái màu xám xám, vàng vàng bẩn bẩn trên các tòa nhà chung cư xây lộn xộn không quy hoạch. Các cột ăng ten đâm ngổn ngang, quần áo giăng khắp nơi. Tôi nói đùa với Fauls : “Phà đến Hà nội rồi, về thôi !”. Hắn cười khoái trá và bảo : “Cùng là anh em cộng sản hết mà”. Bọn tôi có đôi chút rầy rà với hải quan chỗ nhập cảnh nhưng cuối cùng cũng vào được đất Albania. Chắc bọn tôi là trường hợp đầu tiên họ gặp ở cái bến cảng bé nhỏ này. Một thằng Việt Nam đi với một thằng Đức trên chiếc Toyota vào biên giới Albani làm gì ? Ban đầu bọn tôi định khai là đi du lịch nhưng sau đấy cứ nói thật là đi về Montenegro. Viên Hải quan gác trạm gọi điện cho sếp hắn từ văn phòng cảng ra trực tiếp phỏng vấn bọn tôi vì dường như trường hợp của tôi đã vượt quá thẩm quyền của hắn. Sau khi xem xét lại xe và đối chiếu các giấy tờ. Sếp hải quan đã đóng dấu cho tôi qua. Khi trao hộ chiếu cho tôi hắn cười và chào “Bravo Ho Chi Minh”. Tôi chào lại “Bravo Hoxha”. Fauls vừa lái xe vừa cười hô hố “ Đúng là anh em cộng sản nồng ấm thật”, hắn nói. Chúng tôi đổ xăng và uống cafe ở quán bên đường, ở đây văn hóa Thổ Nhĩ Kỳ ảnh hưởng khá lớn. Từ cách uống cafe, đến trang phục và kiến trúc đều mang đậm chất Thổ. Tôi vẫn khoái nhất là cafe Thổ, cách uống này khác hoàn toàn cách của thế giới còn lại. Họ cho thẳng bột cafe xay mịn vào nước sôi thay vì lọc qua hơi nước như cách khác. Nhưng nó ngon tợn. Tôi uống hai cốc liền với bánh cake quế nóng. Fauls nhâm nhi cafe và bảo “Cảm ơn nhé !”. Tôi hỏi cảm ơn gì ? Hắn bảo quyết định đi Albania thật hay vì đây là lần đầu tiên hắn đi phiêu lưu như thế, hắn khoái lắm.

Chúng tôi mở bản đồ ra xem và hỏi đường mấy người già ngồi bàn bên cạnh. Từ lúc chúng tôi vào họ đã bàn tán xì xầm về chúng tôi như cách những người nhà quê rỗi việc vẫn thường làm khi có khách từ thành phố về. Nhưng ở đây chính bọn tôi mới là dân nhà quê vì tất cả bọn họ đều mặc complet còn bọn tôi thì chả khác dân buôn lậu dọc biên giới là mấy. Sự khác biệt duy nhất là cái bản mặt Việt Nam của tôi vì dường như họ chưa nhìn thấy một người đông á bao giờ. Fauls hỏi đường đi Montenegro bằng tiếng Ý, họ tay chỉ trỏ vào tấm bản đồ tay chỉ trỏ ra đường và nói bằng tiếng địa phương. Bọn tôi chả hiểu gì nhưng cứ gật đầu cảm ơn lia lịa.

Tôi trả tiền cafe và lên đường. Mưa lại rơi, những cơn mưa miền biển bao giờ cũng đến hối hả, băng qua mạnh mẽ và hối hả. Cái cần gạt nước đánh lia lịa theo nhịp điệu của bản dân ca Albania trên radio. Tấm kính bị phủ một màn mưa nên khung cảnh bên ngoài qua mắt tôi cũng mờ ảo tựa như đang bơi qua những cánh đồng, bơi qua những con đường nông thôn, và bắt đầu bơi qua những trạng thái cảm xúc lẫn lộn…

Đến hồ Scutari thì trời lại hửng nắng, khung cảnh bên ngoài thay đổi đột ngột đến nỗi tôi có cảm giác như vừa chui từ lòng đất lên. Trời xám thành xanh ngắt, trước mắt chỉ có một màu xanh của trời của mặt hồ và những chấm vàng, trắng của hoa trên loang trên mặt hồ. Hoa bồ công anh hối hả bay lên theo những con gió, chìm xuống, hoa súng dại chìm xuống như đâm từng nhát dao xuống mặt hồ. Gió lại thổi mạnh khiến cả bọn hoa lựu bay tung tóe khắp nơi giống như mấy cô nàng váy đỏ tung tăng và làm dáng dưới mùa thu. Nắng cắt từng mảng vàng ươm trải ra phơi trên mặt hồ. Bọn hoa cam dại thì tỏa ra thơm nồng, chị em nhà cúc thì làm dáng kiểu gái quê đi hội theo từng bầy, từng lớp. Hồ Scutari lúc này như một sân khấu lớn cho tất cả bọn chúng nó trình diễn bản concerto mùa thu…

 

(tạm dừng đi uống bia )


Nỗi nhớ mùa đông

Dạo này mình bị trĩ, lại phải đúng mùa đông rồi cộng cả ho khan suốt tháng ròng không khỏi. Nỗi đau cứ gọi là chồng chất. Trĩ đau đã đành, lại cộng hưởng với ho thì cả một thiên thống khổ. Nhưng đau nhất là nằm nhìn chai rượu mà thèm. Ngoài trời lại rét băng.Thật là kinh khủng…

Dạo ấy cũng tầm tiết này, mùa đông đầu tiên mình chứng kiến ở Hà Nội. Bạn Đức từ Nga về. Bạn mang theo cả cái tinh thần nước Nga trên mái tóc bồng bềnh và đôi mắt sáng sóng sánh tựa nước sông Vonga mùa tuyết tan. Trời cũng rét, tôi đợi bạn đi hoang ở cái quán đối diện Metropol. Quán Viva ấy bây giờ cũng đã bị đập nốt trong cái phong trào thanh trừng các biệt thự cổ của mấy bạn lái đất. Không khéo lại chệch chủ đề mất. Ít nhất cái quán ấy cũng chứng kiến một loại hỗn hợp nước uống có cồn mới ra đời. Có thật sự là nó được ra đời do chính tôi sáng tác hay không thì tôi không chắc. Nhưng  cho đến giờ tôi vẫn chưa thấy một người khác uống như thế ngoài vài thằng bạn tôi đã mời dùng thử.

Tôi gọi vại bia tươi ngồi nhấm nháp đợi nó, thằng ôn mới về nước nên lắm chuyện gia đình. Qua cốc thứ hai vẫn chưa thấy mặt nó đâu mà tôi cũng bắt đầu thấy phừng phừng nên lại nghĩ miên man về cái sự quen nhau giữa tôi và nó. Xuất phát từ cái mạng TTVN của thằng bỏ mẹ nào đấy, thế là tôi biết nó. Nó là thằng thích viết, một thằng yêu cái đẹp trong đấy tất nhiên có gái đẹp. Qua vài bài truyện tự bóp vớ vẩn của cả tôi và nó, chúng tôi bắt đầu tìm hiểu nhau sâu hơn và thế đéo nào cuối cùng tôi ngồi đây đợi nó chuẩn bị đi hoang như những thằng chơi với nhau từ thời mới biết chùi đít. Nó là Tequila, tôi chợt nghĩ không biết vì sao nó gọi nó là Tequila nhỉ ? Lúc đấy thì tôi chỉ nghĩ là nó thích rượu Tequila chứ không phải tên một bài hát bỏ mẹ nào đấy. Nghĩ thế nên tôi gọi một sót Tequila. Thật tình lúc ấy cũng là lần đầu tiên tôi uống thử cái rượu ngon vãi đái ấy, sau khi hồi hộp nếm thử thấy phê phê đầu lưỡi tôi định dấn phát hết sót rượu nhưng vừa sực nhớ ra mình chỉ còn tầm hơn 200k trong túi nhỡ hết lại thèm thì biết làm sao. Tôi check lại giá rượu trong menu và thở phào, mình còn đủ tiền làm vài sót nữa. Nhưng tôi không uống vội mà nhấm nháp kèm với bia và lạc rang. Lúc đấy tôi thấy đời sống của tôi thật là cao ngất ngây. Ngồi đợi một thằng bạn cứt trong cái quán cổ giữa lòng thủ đô và nhấm nháp Tequila với bia dưới mùa đông giá rét. Cái cảm giác lãng mạn hùng vĩ ấy mấy thằng miền nam đã từng được nếm trải như tôi đâu. Hơn nữa lại là thằng nghèo kiết đang lang thang như chó đói. Tôi thấy hạnh phúc đang sủi tăm trong cái cốc bia lạnh và trong cái cảm giác ngây ngất đấy tôi đã đi đến quyết định táo bạo là thả sót rượu Tequila vào cốc bia đang sủi tăm hạnh phúc. Tôi bưng cốc làm một hơi đến hết sạch, chững lại vài giây như khoảng lặng trong bản giao hưởng hùng tráng. Tôi thả mình theo dòng bia lạnh trộn Tequila trôi từ từ vào cổ họng. Mẹ kiếp cuộc đời thật là chứa chan yêu thương.

Tôi đã thấm tây tây thì thằng ôn đến. Tôi quyết định gọi thêm hai suất hỗn họp bia + Tequila cho nó và cho tôi. Nó nhìn tôi từ từ thả cốc rượu vào cốc bia mà trố mắt đi từ ngạc nhiên đến ngưỡng mộ. Tôi biết nó ngưỡng mộ tôi vì tính nó thế. Trong lúc đang đói rét mà có thằng gọi bia cả rượu khao cho thì không ngưỡng mộ sao được cơ chứ. Thế là chúng tôi nâng cốc mừng hội ngộ. Nó thả cốc xuống và buông một câu :

– Ngon vãi, trông chó ghẻ thế mà sành điệu thật !

Tôi nghe nó khen thì bao ưu phiền về cái hóa đơn sắp phải thanh toán cũng tan thành tro bụi mà bay đi. Mẹ kiếp cuộc đời thật là chan chứa yêu thương !

Chúng tôi tây tây lượn xa ra phố mùa đông. Nó đèo tôi ngồi sau, tôi hát inh ỏi cả phố những bài hát mà không bao giờ tôi nhớ chính xác được một từ… MK !

Mãi sau này, bạn Hiệp phò cưới vợ, bạn đưa vợ đi tuần trăng mật ở Phú Quốc. Sau khi trăng chán mật chê với vợ, bạn chui vào quán bar nào đấy ở Phú Quốc mà uống Tequila trong bia. Rồi bạn truyền cái cách uống đấy cho anh em ngư chài đảo xa cùng thưởng thức. Anh em ngư chài ai cũng ngất ngây và hỏi bạn về truyền thuyết của loại nước thần tiên ấy. Ai chứ bạn Hiệp phò thì thừa sức viết luôn ra một truyền thuyết ngất ngây lòng người. Trong cơn ngất ngây của tepuilabia, trong tiếng vỗ dồn dập của sóng lạnh, trong màn đêm đen thẫm đầy sức mạnh vô hình của tạo hóa. Bạn Hiệp tay cho túi quần, tay cầm cốc Tequilabia hướng mặt lên khoảng trời đầy sao, sau lưng bạn là anh em chài lưới khốn khó đang tê dại nằm ngồi la liệt. Bạn Hiệp thì thầm trong gió biển đêm :

_ Tên gọi nước uống là days of tears !

(viết đến đây tác giả tự ý cắt đi 200 chữ vì buồn cười quá đéo chịu đc !)


Mỳ Quảng

Tựa như một tháng không đi đâu ra khỏi Hà Nội là người trở nên ù lì, cơ thể bần thần nặng nề với khói bụi, với các món ăn bẩn, với những câu chửi bới nghe thấy hàng phút giây ở những nơi công cộng. Mãi tôi vẫn không thể hiểu được vì sao người ta gọi Hà Nội là “thủ đô văn hóa”. Có lẽ “văn hóa” ở đấy là tất cả các thứ vô văn hóa trộn lại mà thành.

Chính xác là người ta cần những ký ức đẹp cho những lúc như thế này. Những lúc nhìn thấy thức ăn là muốn nôn ra ấy. Tôi nhớ món mỳ Quảng quê tôi kinh khủng. Đấy là thứ duy nhất tôi tự hào về quê hương, cách nấu các món ăn, cách thưởng thức các món ăn và cách nghĩ đến nó. Trong những năm đầu tiên mang sách đến trường, tôi luôn phải đi bộ thật xa băng qua những cánh đồng, những quả đồi đất mọc đầy cỏ lau và đầy những hố bom lớn, những hố đào của  người tìm phế liệu sót lại sau chiến tranh. Mọi khả năng cảm nhận của tôi có lẽ đã được rèn luyện theo cách đấy. Đường đến trường xa  nên tôi luôn đi học sớm hơn vài tiếng. Nếu đi học buổi chiều thì tôi không kịp ăn cơm nhà nên phải ăn cái gì đấy khi gần đến trường. Mẹ tôi cũng là giáo viên trường làng, bà trả tiền cho tôi ăn hằng tháng ở một quán mỳ Quảng ven đường cách trường chừng 1km.

Quán thời đấy không đông đúc tấp nập như bây giờ, vả lại ở quê thì họa chăng một ngày bà ba chủ quán bán được 5 bát mỳ đã là đắt hàng lắm rồi. Vì thế mà tôi là khách V.I.P của quán. Đôi khi vì hết mỳ hay sợ ế hàng nên bà ba không tráng mỳ trước, có lúc tôi phải ngồi đợi bà tráng mỳ rất lâu. Nhưng tôi lại rất thích cái thời gian ngồi đợi ấy, lúc đấy thì tôi không giải thích được vì sao tôi thích, nhưng bây giờ nếu có đói lả mà bắt phải đợi bà ba tráng mỳ mới được ăn thì tôi cũng sẽ đợi được vài giờ.

Mỳ Quảng làm từ bột gạo, cách làm cũng giống như là bánh tráng trong nam hay bánh đa ngoài bắc nhưng lúc tráng mỳ thì tráng dầy hơn. Tráng xong cho ra mẹt lá chuối, thoa lên một ít dầu phộng rồi lại tráng cái mới chồng liên tiếp lên như thế. Thoa dầu phộng cốt để cho các lớp bánh không dính vào với nhau và khi ăn cũng đã khá béo và thơm rồi. Bà ba thường chỉ tráng vài cái bánh một lần, bà cắt mỳ thành từng bản dầy tầm 1,5 phân cho vào các bát đất. Nước dùng thì lúc nào cũng nóng bên cạnh bếp củi tráng mỳ. Cách làm nước dùng thời đấy đơn giản hơn bây giờ vì không có nhiều nguyên vật liệu. Chỉ ninh xương ống heo rồi um thịt ba chỉ với hành và gia vị cho vào. Một ít màu ớt và tiêu. Nhưng bát mỳ của thời đấy có cái vị đặt biệt mà chắc chắn bây giờ không thể làm được đấy là mùi. Trong sợi mỳ lúc nào cũng có mùi đượm khói bếp và mùi dầu phộng rất nặng. Hơn nữa khi um thịt bà ba thường dùng củ nén (một loại củ cùng họ với hành nhưng bé hơn và nồng hơn).

Bà chan nước dùng xấp xấp cái đáy bát mỳ, cho thêm ít rau hoa chuối, ít hành lá tươi rồi đưa cho tôi. Thường tôi phải hít đầy cái khói bốc lên từ bát mỳ rồi mới bắt đầu đánh chén. Nhiều khi đến cuối tháng mẹ tôi tính tiền mỳ cho bà ba thì hết 1/3 lương của mẹ. Đến lúc tôi được đi xe đạp đến trường thì cũng không còn ăn mỳ của bà ba nữa, nhưng lúc nào đi ngang qua tôi cũng nhìn cái quán mái tranh thấp lè tè ấy, nếu có khói bốc lên tôi sẽ đạp xe thật chậm để hít đầy cái khói bốc lên từ quán mỳ bà ba.


Bệnh Nhân và Con Khỉ

Mấy tuần nay tôi phải làm hai dự án cùng lúc, bệnh viện 1000 giường cho các bệnh truyền nhiễm và một cái chuồng Khỉ. Nói chính xác hơn là một bảo tàng Khỉ sống.

1.Bệnh viện

Tôi nhận được các loại dữ liệu để làm bệnh viện 1000 giường chỉ vỏn vẹn là một tờ A3 bản vẽ và nhiệm vụ thiết kế 50 tờ A4. Vì thế tôi bắt tay vào tìm thêm thông tin. Đầu tiên tôi google tên của “Viện X…”, các kết quả tìm được là vài bài báo ba lăng nhăng từ trang web của mấy tờ báo ba lăng nhăng. Bỏ thêm 1g nữa để tìm tôi mới biết “Viện X” không có website. Chợt nhớ tới cái namecard của viện trưởng đưa cho, tôi xem lại thì thấy “email : xyz@yahoo.com“. Tôi thật choáng.

Một Viện nghiên cứu và chữa trị bệnh truyền nhiễm  nhiệt đới đầu ngành của một đất nước nhiệt đới nhưng không có website. Tôi quyết định đi thực tế vào bệnh viện xem sao.

Mấy dãy nhà ngang 3 tầng xây từ thời bao cấp, người bệnh nằm ngồi la liệt trên hành lang, bên các lối đi nhỏ giữa các giường bệnh. Giường thì ít nhất là 2 người trên 1. Các loại mùi nước tiểu, thuốc diệt khuẩn, mùi người bệnh như phủ lên kín cả một khoảng trời rộng. Họ khạt nhổ, ho, ngáp, ăn, ngủ gần như cùng 1 chỗ. Các bệnh nhân được ở đó chiếm đến 60% là vượt tuyến. Ôi chao, họ đã vượt tuyến lên trung ương rồi đấy !

Tôi lại quay về tìm tài liệu các bệnh, xem các loại bệnh truyền nhiễm phổ biến và cách thức lây nhiễm. Sau khi xem qua vài bệnh cơ bản thì tôi không chắc mình có mắc một trong các bệnh đấy không vì tôi vừa băng qua một rừng người bệnh truyền nhiễm mà không có một sự cách ly nào. Ấy thế mà trong tiêu chuẩn quốc gia về bệnh viện tôi đang xem có những tiêu chuẩn cao hơn cả ở Mỹ. Ôi những người bệnh Việt Nam chúng ta tiêu chuẩn cao hơn Mỹ !

2.Chuồng Khỉ

Cùng lúc tôi lại được giao cho một việc là thiết kế cái chuồng khỉ đâu đó ở Đức. Một kiểu bảo tàng về quá trình tiến hóa của con người. Tôi lại xem nhiệm vụ thiết kế. Công trình có 3 khu chức năng chính, khu 1 là trưng bày ảnh, media và các hiện vật mô tả quá trình tiến hóa từ loài xyz đến người. Khu 2 là khu cho cái loài xyz sống. Khu 3 dành cho cafe và bán các đồ lưu niệm.

Trong  khu chức năng 2 cho loài khỉ xyz có gần như các tiêu chuẩn cho một  resor. Có khu vui chơi, khu nghỉ. Có ngoài trời có trong nhà, có các khoảng không gian riêng cho đôi lứa yêu nhau, có khu hoang dã, khu luyện tập kỹ năng, có các máy chơi game. Các tiêu chuẩn về thông gió và ánh sáng cũng có thể áp dụng cho một bệnh viện được. Đọc đến đây tôi mới nảy sinh hồ nghi về học lý thuyết của Darwin. Tôi cho rằng con người tiến hóa thành khỉ hay chí ít con người tiến hóa thành bề tôi cho khỉ. Kết luận rằng “ở thời xa xưa đó, một bộ phận khỉ ít thông minh hơn, yếu hơn đã bị đàn áp bởi một chủng khỉ mạnh hơn để cuối cùng chủng bị đàn áp này phải biến thành người nhằm thoát khỏi hình sự đàn áp này. Sau hàng triệu năm, chủng yếu hơn là những con người này lại phải quay về và hầu hạ chủng mạnh hơn kia bằng cách này hay cách khác… Ví như cách tôi đang làm đây, thiết kế cho chúng một khu resort”.

 

Tôi làm một phép so sánh nhỏ về tiêu chuẩn sống của một bệnh nhân Việt Nam và con Khỉ ở Đức. Xin đau đớn kết luận rằng giá như tất cả các bệnh nhân tôi vừa thấy kia được biến thành Khỉ Đức !

Đất nước với  hơn 4000 năm có người này luôn tự hào là “Con rồng cháu tiên”. Luôn tự hào rằng văn hóa nghìn đời. Con Rồng cháu Tiên hay con Giun cháu Gián thì vẫn còn là một câu hỏi lớn cho vài nghìn năm sau nữa ông cha ơi !!!


bene

Trời đổ mưa to khi chúng tôi lên đường đi Bari. Hãy còn một chặng đường dài qua băng qua nước Ý nhưng tôi cảm thấy gần như đang chia tay. Fauls cho xe chạy 120 km trong cơn mưa, chúng tôi tự nhiên không muốn nói chuyện hay bàn tán về những đề tài như những chặng trước nữa. Dường như Fauls cũng không muốn nói gì lúc này và cả tôi cũng thế. Tôi thả mọi cảm xúc mình trôi theo cơn mưa, lướt nhanh qua những hàng tuyết tùng đẫm nước hai bên đường. Chúng tôi đang băng qua đâu đấy gần San Martino Bassa. Mưa ngớt dần, tôi quay kính chắn gió cho một ít gió và nước hắt nhẹ vào. Tôi ngửi thấy hơi thở của những cánh đồng nước Ý, những giàn nho cuối mùa buồn bã rụng lá, những ngọn đồi oliu trải rộng vắt qua trùng điệp và dài khắp các thung lũng. Đôi lúc, đâu đấy trên những cánh đồng trống, những cây Cypress khẳng khiu vươn cao tít tắp và đâm một lỗ nhỏ vào cái khoảng trời rộng mênh mông xám ngắt và lạnh lẽo ngay trên chúng tôi. Mưa lại nặng hạt. Tôi bất chợt hỏi Fauls về Alexandra của hắn. Câu hỏi đấy thốt ra từ miệng tôi nhưng chính tôi cũng thấy nó như từ ngoài những cánh đồng kia vọng vào vì tôi hoàn toàn không một chút mảy may nào nghĩ về Alexandra vài giây trước. Tôi không ngụy biện làm gì nhưng thực tình trong cái khung cảnh gần căng đầy hết cả các cảm xúc này, câu hỏi đấy là một cách giải thoát. Tôi không mong đợi Fauls sẽ trả lời nhưng hắn bắt đầu kể vài phút sau đấy.

Đấy là chuyện tình đẹp nhất trong 35 năm cuộc sống của hắn. Fauls gặp Alexandra trong năm cuối cùng ở trường đại học. Họ sống cùng nhau ở Venice. Thoạt nghe tôi đã thấy đầy cảm giác tiểu thuyết tình yêu trong câu chuyện tình này. Nhưng đúng thế, Fauls kể về nó như đang nói đến thứ đẹp nhất mà thượng đế ban cho hắn. Nàng dạy cho hắn tiếng Ý, nàng mang hắn đi khắp đất nước ấy và mở ra cho hắn những khoảng trời lành lặn yên bình và hoàn hảo. Hắn và nàng đã trao cho nhau mọi thứ tốt đẹp nhất của tuổi trẻ, của mối tình đầu trong một thành phố đẹp như thiên đường. Rồi nàng đã rời đi khỏi hắn một thời gian dài. Nàng trở về nhà và chăm sóc bố nàng trong những năm cuối cùng của cơn bạo bệnh. Hắn trở về Đức tiếp tục đi làm, liên lạc của hắn và nàng cũng thưa dần và rồi không biết vì sao mọi chuyện đột nhiên biến mất. Câu chuyện tình yêu đẹp nhất của hắn giống như trở về với trang tiểu thuyết mà hắn vừa đọc. Hắn không dám chắc rằng mọi chuyện đã kết thúc nhưng cũng không dám chắc rằng mọi chuyện có thể tiếp tục diễn ra như kéo dài những ngày tháng đẹp trong trang tiểu thuyết ấy đến lúc nào. Họ không cãi nhau, không nói lời chia tay, không từ biệt nhưng chỉ còn nhớ về nhau như đã từng yêu nhau… Hắn thở dài “Đấy là món quà đẹp nhất”.

Nắng xé toạc khoảng trời xuyên xuống một quãng đồi phía trước chúng tôi. Đang băng qua đâu đấy đồng bằng Tuscany. Fauls cho xe chạy chậm hơn, sau câu chuyện dường như hắn muốn chìm sâu vào những tháng ngày đẹp ấy trong những ngày ngắn ngủi lưu lại trên đất Ý. Tôi gợi ý nên dừng lại đâu đấy uống chút cafe chờ ngớt mưa rồi đi tiếp. Hắn đồng ý và cho xe chạy vào trạm xăng gần nhất.

Bọn tôi ăn qua loa cái bánh mì với gỏi cá kẹp với ít oliu dầm, hai cốc cafe nóng. Tôi dạo quanh cửa hàng tìm mua vài CD để nghe trên xe. Toàn các CD tiếng Ý, tôi chả có chút khái niệm nào về nhạc Ý nên chọn cái CD có bìa tôi thích nhất. CD của Francesco de Gregori. Lúc tôi đưa cho Fauls cái CD hắn giật thót mình như đạp phải phân. Hóa ra đấy cũng là CD gắn với những ngày tháng cùng Alexandra của hắn.

Chúng tôi trở lại với con đường. Lúc này mưa đã nhẹ hơn. Tôi cho cái CD mới mua vào máy nghe được vài câu thì đã ngủ thiếp đi trong âm thanh đều đều của tiếng ghita gỗ và chất giọng buồn buồn của Fran. Trong giấc ngủ chập chờn tôi nghe thấy loáng thoáng trong bài hát bỗng có câu “faccia vietnamita”. Tôi bò dậy và tua lại bài hát nghe lại thật kỹ.

“Bene, se mi dici che ci trovi anche dei fiori in questa storia, sono tuoi
ma è inutile cercarmi sotto il tavolo,
ormai non ci sto più
ho preso qualche treno, qualche nave,
qualche sogno, qualche tempo fa

Ricordi che giocavo coi tuoi occhi nella stanza, e ti chiamavo mia,
e inoltre la coperta all’uncinetto, c’era il soffio della tua pazzia
e allora la tua faccia vietnamita ricordava tutto quel che ho.

E adesso puoi richiuderti nel bagno a commentare le mie poesie
però stai attenta a tendermi la mano,
perché il braccio non lo voglio più
mia madre è sempre lì che si nasconde dietro i muri
e non si trova mai
e i fiori nella vasca sono tutto quel che resta e quel che manca,
tutto quel che hai
e puoi chiamarmi ancora amore mio …”

Bài hát đấy làm tôi nổi hết cả da gà vì cái giai điệu và cả cái khung cảnh lúc đấy. Nó quá hay thì đã hẳn nhưng tôi muốn hiểu hơn về lời bài hát tại sao lại có “faccia vietnamita”. Sau khi nghe lại lần thứ 5, Fauls dịch lại cho tôi nghe đại ý của đoạn đầu.
Sau khi tôi lắp ghép ngữ pháp và thay ít từ thì nó thành ra thế này :

“Được rồi, nếu em tìm thấy hoa trong bài hát này thì nó là của em

Nhưng đừng tìm anh dưới bàn hay trên ghế nữa. Anh đã rời đi rất xa rồi, bằng những chuyến tàu, những con thuyền hay bằng cả giấc mơ. Anh đã đi rồi

Em có nhớ trong căn phòng mà anh đã chạm vào mắt em đấy

bây giờ anh không thể ngủ trong đấy nữa.

Trên chiếc giường ấy, chăn gối đã đẫm ướt sự cuồng dại của em…

Em ! Khuôn mặt Việt Nam của anh là tất cả những gì anh có thể nhớ…

Sau này tôi mới biết bài hát này được viết những năm 70. Fran viết về một người đàn bà Việt Nam bị điên và luôn đi tìm hoa. Điều cuối cùng Fran thấy là người đàn bà choàng một khăn trắng đứng trên cầu như chuẩn bị nhảy xuống. Fran thì ngồi trong xe lửa lướt nhanh qua và không biết cuối cùng điều gì đã xảy ra với người đàn bà ấy. Một bài hát mơ hồ đến nỗi tôi chắc chắn rằng chính tác giả cũng cảm thấy mơ hồ không kém khi viết.

Tôi nghe lại một lần nữa bài hát và thiếp đi thật sâu như khi vừa khóc xong một trận thật to. Cuộc sống này vốn có quá nhiều sự trùng hợp đầy bí ẩn !

nghe bài hát ở đây (nghe thôi đừng xem )